This genealogy report is about PHẢ ĐỒ HỌ NGUYỄN LINH ĐƯỜNG.
It contains 190 individuals and 45 families from the family tree. (Do Nguyễn Đức Kiên - con cháu đời thứ 12 lập ngày 21 tháng 10 năm 2007)
DÒNG HỌ NGUYỄN LINH ĐƯỜNG
( Dòng họ Nguyễn ở làng Linh Đường)
Làng Linh Đàm (hay Linh Đường) thời phong kiến hợp với làng Đại Từ thành xã Linh Đàm, từ sau hoà bình lập lại là một thôn thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì cũ, nay thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai. Làng như một hòn đảo nhỏ nổi lên ở phía Nam đầm Linh Đàm.
Linh Đàm có nghĩa là đầm cỏ thơm. Còn Linh Đường có nghĩa là hồ nước có cỏ linh chi – một loại cỏ dùng làm thuốc. Đầm còn được gọi là Liên Đàm, nghĩa là đầm sen, bởi đầm có nhiều hoa sen. Sử triều Nguyễn gọi là Nguyệt Kính hồ. Hồ còn nổi tiếng cả về hình dáng đẹp và sắc nước trong, nên chiếc cầu bắc qua cửa đầm gọi là Cầu Tiên. Đầm Linh Đàm rộng khoảng 72 ha, từ xa xưa nó giữ vai trò là trung tâm liên kết các làng xã xung quanh hồ thông qua những hình thức thờ phụng và lễ hội. Khối tâm linh đó là vị Thần của đầm, tương truyền là học trò của Chu Văn An có công giúp dân chống hạn, cứu mùa màng, được huyền thoại hóa là con vua Thủy Tề đã làm mưa cho 5 xã 7 thôn, được cả vùng thờ làm Thành hoàng.
Linh Đàm có họ Nguyễn khá nổi tiếng với ông Nguyễn Đình Tư, đỗ Giải nguyên thời chúa Trịnh Giang, làm Tư giảng cho cả vua Lê ý Tông và chúa Trịnh Doanh. Nguyễn Đình Tư uyên thâm Nho học, là bạn của nhiều danh sĩ đương thời, có 3 người con trai được phong Quận công và 3 người con gái đều làm vương phi trong phủ chúa Trịnh, trong đó có bà Quốc Thánh mẫu Nguyễn Thị Hoa Dung (Nguyễn Thị Khương) lấy chúa Trịnh Doanh đẻ ra Trịnh Sâm. Vì thế, Nguyễn Đình Tư được Trịnh Sâm phong là Triệu Khánh công, Thượng đẳng phúc thần. Khi Đặng Thị Huệ (vợ Trịnh Sâm) lộng quyền, bà Hoa Dung về sống ở quê Linh Đường, giúp làng sửa đình, chùa.
Nguyễn Đình Tư (1686 - 1739) sinh ra trong một gia đình nghèo ở ngoại thành Hà Nội. Nhờ có thiên tư và ham học, ông đã đỗ tiến sĩ năm 34 tuổi. Được mời vào phủ chúa giảng sách cho các ấu chúa, ông đã để lại ảnh hưởng không nhỏ tới chúa Trịnh Doanh, người có công ổn định đất nước trong một thời gian dài.
Ít có vua, chúa nào lại biếng học, lại không được dạy dỗ bởi những người thầy vừa nghiêm, vừa giỏi. Thầy dạy vua con lọt mắt vua cha, tất phải đức độ, thực tài, học rộng nhưng không nệ sách, biết nhiều mà lại giỏi dùng cái biết mà luận việc nước, việc đời.
Ở kinh thành Thăng Long đầu thế kỷ 18, có bậc thầy như thế. Nghiệp thầy cùng gia thế của ông ở vào hàng hiếm thấy ở nước ta thời trước. Ông lọt mắt chúa Trịnh Cương (1709 - 1729), nên được vời giảng sách cho ấu chúa thứ hai là Trịnh Doanh. Lúc ấy, hoàng tử thứ hai của Lê Dụ Tông là Duy Thìn (Thần), cháu gọi bà phi họ Vũ vợ Trịnh Cương bằng cô, đang được nuôi trong cung chúa, cũng cùng nghe giảng sách với Trịnh Doanh. Hai học trò của thầy tiến sĩ về sau một làm vua (Lê ý Tông), một làm chúa (Minh Đô Vương). Người đương thời ca ngợi: "Kẻ áo vải mà làm nên bậc thầy của cả vua lẫn chúa, xưa nay hiếm có".
Bốn con trai nhà giáo cũng đều học hành thành đạt, làm quan, thanh liêm và làm nhiều việc thiện cho dân. Một gia đình nhà giáo tới năm cha con cả trai lẫn gái "phụ tử đồng triều", thật là hiếm lạ. ấy là chưa kể hai người con gái còn lại cũng đều trở thành các Quận công phu nhân.
Bậc thầy đó là Tiến sĩ, Quận công họ Nguyễn, húy là Luân, tự là Đình (Anh) Tư (1686 - 1739), người làng Linh Đường, huyện Thanh Trì, ngoại thành phía nam Thăng Long.
Các sách Đại Việt sử ký tục biên, Cương mục, Lê quý kỷ sự, Hoàng Lê nhất thống chí, nhất là Gia phả họ Nguyễn Linh Đường con cháu truyền đời gìn giữ, giúp chúng ta hiểu một dòng họ vẻ vang, một vùng đất văn hiến nay đang trở thành một khu đô thị hiện đại ở thủ đô: khu dân cư - du lịch Linh Đàm.
Tổ tiên họ Nguyễn này nghèo khó nhất làng. Cụ tổ đời thứ ba mất, không có tiền nhờ làng mai táng. Hai con trai đợi đến đêm, lặng lẽ khiêng quan tài ra đồng chôn cất. Sau anh cả đi kiếm ăn xứ người, mất tích. Anh thứ hai lấy vợ làng Tứ Kỳ, giỏi làm bún, bún ngon có tiếng kinh thành, nên nuôi được các con ăn học. Có thiên tư, lại ham học là Nguyễn Đình Tư. 23 tuổi thi hương, ông giật giải nguyên (đỗ đầu). Năm sau trúng tam trường. Rồi mười năm sau thi đỗ Hoành từ sĩ vọng. Năm sau nữa, lại đỗ Văn chức nội đình tiến triều (tương đương tiến sĩ). Vị tiến sĩ ở tuổi 34, xuất thân từ làng quê về dòng họ lam lũ, vô danh, vua chúa chưa biết đến, triều thần không kẻ thân quen, nhờ thực học, thực tài mà lỗi lạc, lập tức được chúa Trịnh Cương - vị chúa có đầu óc cách tân, trọng hiền tài bậc nhất trong số các chúa Trịnh - vời vào cung giảng sách cho ấu chúa và hoàng tử. Sách vở không chép về chuyện dạy học của thầy. Nhưng chắc hẳn vị thầy xuất thân dân dã dạy bảo học trò một cách xuất sắc. Cho nên triều đình lần lượt phong cho thầy nhiều tước vị cao: Tiền tả tư giảng, Bồi tụng, Thượng thư bộ Công, tước Nam quận công.
Nổi tiếng kinh kỳ về học vấn, làm thầy dạy cả vua lẫn chúa, lại có đức thương dân, cần kiệm, trọng đãi người tài, cho nên tư thất của vị vương sư này trở thành nơi tụ hội dập dìu kẻ sĩ lúc bấy giờ, chẳng khác gì một Hội tao đàn. Năng lui tới thù tạc, thưởng hoa, ngâm thơ, bình văn xướng họa, là các bậc tài hoa đất Thăng Long : Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ, Thượng thư, tiến sĩ Nguyễn Công Cơ, Thượng thư Nguyễn Công Thái, Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân, Đỗ Thế Giai, v.v... Người đương thời thán phục gọi nhà ông là "Nguyễn môn đào lý" (vườn đào - tài trí, thơ văn - nhà họ Nguyễn).
Danh vọng lớn thế, nhưng nhà giáo sống rất mực dân dã, chan hòa với dân làng. Được vua, chúa ban cho chút lộc gì, ông cũng đem chia cho họ mạc cùng hưởng. Yến tiệc được phần biếu, đem về, ông cho mổ lợn làm cỗ thêm vào, mời làng xóm tới cùng vui. Hai ông bà đi tới từng mâm, ân cần mời mọc. Bà Quận công ở nhà vẫn làm nghề khâu vá lấy tiền làm việc thiện.
Khi ông qua đời (1739, thọ 53 tuổi), cả vua chúa, triều thần lẫn trong họ ngoài làng đều thương tiếc. Triều đình phúng viếng 12 đôi câu đối, lại cử quan viên đến làm tang. Sau, Trịnh Sâm là cháu ngoại ông lên ngôi chúa, truy tặng ông tước hiệu Triệu Khánh Công (năm 1767). Triều đình cho lập hai ngôi từ đường thờ phụng. Một ngôi ở làng Tự Tháp (quãng 77 - 79 phố Hàng Trống ngày nay). Ngày giỗ ông hằng năm, quan triều đến tế lễ. Khi Lê Chiêu Thống lên ngôi, ra tay trả thù họ Trịnh mặc dù dòng chúa đã bị quân Tây Sơn xóa sổ, cho quân đốt phá bằng hết những đền, miếu, cung điện, dinh thự các chúa Trịnh từng cho xây cất. Ngôi từ đường này, liền kề là một hành cung của chúa Trịnh bên 71 Hàng Trống bây giờ, đều bị thiêu hủy. Khu đất từ đường cũ, về sau mọc lên Đình Nam Hương, nhà Khai trí tiến đức. Con gái ông khi trở thành Thái phi, lại bỏ tiền xây ngôi đền ở làng Huỳnh Cung, gần nơi Chu Văn An dạy học thuở xưa, để thờ cả hai nhà giáo Chu Văn An và Nguyễn Đình Tư. Tiếc là đền này đã bị phá hủy trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đức độ, tài năng của vương sư Triệu Khánh Công ở vào hàng các danh sĩ Thăng Long, mở ra truyền thống văn hiến cho một dòng họ, một vùng đất. Con cháu các đời sau nhiều người hiển đạt, có công với dân với nước.
You may also search for the following family names:
Trịnh, Dương, Trần, Lã, Cụ, Cai, Cả.
Copyright © 1998-2006 GenoPro Inc. All rights reserved.
Download GenoPro from http://www.genopro.com/